Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Sàng Lọc Thai Nhi Phát Hiện Những Bệnh Di Truyền Thường Mắc Phải

Sàng lọc trước sinh được áp dụng trong y tế hiện đại có thể phát hiện những dị tật sớm của thai kỳ, với độ chính xác cao tới 99%. Tuy nhiên thực tế, nhiều bà mẹ mang thai đến kiểm tra định kỳ tại các cơ sở y tế chỉ khám để biết con trai hay con gái, chứ chưa “mặn mà” với việc khám sàng lọc, chẩn đoán dị tật thai nhi.

PGS.TS Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, nên đi sàng lọc thai nhi mỗi năm trong khoảng 1,5 triệu trẻ được sinh ra thì có khoảng 1.400 – 1.800 trẻ mắc hội chứng Down; khoảng 2200 trẻ mắc bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh); 1000 – 1500 trẻ mắc bệnh; 200 – 250 trẻ mắc hội chứng Edwards và nhiều bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh khác.



Theo PGS.TS Trần Đức Phấn, nguyên Giám đốc Trung tâm Tư vấn Di truyền (Bệnh viện Đại học Y Hà Nội), có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bất thường sinh sản, trong đó đáng chú ý nhất là do di truyền, do tác động của các tác nhân vật lý, hóa học, sinh vật học.

Tại Việt Nam, tỉ lệ bất thường sản khoa khá cao như: vô sinh (7,7%), tỷ lệ mẹ sẩy thai 8% - 12%, mẹ bị thai chết lưu 0,52 - 5,21%, tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh 1,68 - 2,58%. Các nguyên nhân gây ra bất thường sinh sản rất phức tạp, thậm chí hiện tại khoảng 50% các trường hợp dị tật bẩm sinh chưa tìm được nguyên nhân.

Chẩn đoán dị tật thai nhi ở tuần thai thứ 10
Nguyên nhân có thể do bất thường nhiễm sắc thể, do đột biến đơn gen, rối loạn di truyền; các yếu tố vật lý, ô nhiễm môi trường, chuyển hóa; các bệnh nhiễm trùng; mẹ uống nhiều loại thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ...

Trong khi đó, các bệnh tật di truyền rất khó điều trị, hậu quả nặng nề. Vì thế, tư vấn để xét nghiệm tiền hôn nhân, xét nghiệm, sàng lọc thai nhi là vô cùng quan trọng. Hiện nay, khoa học ngày càng hiện đại cùng với sự hiểu biết đầy đủ hơn của những ông bố, bà mẹ về sàng lọc trước sinh đã khiến cho việc giảm thiểu những trường hợp trẻ di tật, giảm thiểu gánh nặng cho xã hội.

Trước kia phương pháp xâm lấn như chọc ối, sinh thiết gai nhau có thể gây nguy cơ sảy thai, hiện nay việc sàng lọc trước sinh được thực hiện dễ dàng và an toàn hơn.

Ở tuần thai thứ 10, không cần chọc ối các bác sĩ vẫn có thể xét nghiệm các dị tật thai nhi dựa vào xét nghiệm máu của mẹ.

Chỉ cần lấy từ 7-10ml máu tĩnh mạch từ cánh tay của thai phụ các bác sĩ xét nghiệm chẩn đoán, sàng lọc đột biến số lượng nhiễm sắc thể và phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Tại hội nghị "Tư vấn di truyền sản khoa" diễn ra tại Hà Nội cuối tuần qua, PGS.TS Nguyễn Đức Hinh - Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội - cho biết, mỗi năm trong khoảng 1,5 triệu trẻ được sinh ra thì có khoảng 1.400 – 1.800 trẻ mắc hội chứng Down; khoảng 2.200 trẻ mắc bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh); 1.000 – 1.500 trẻ mắc bệnh; 200 – 250 trẻ mắc hội chứng Edwards và nhiều bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh khác.

Nguyên nhân dẫn đến bất thường sinh sản rất khác nhau, thậm chí hiện tại khoảng 50% các trường hợp dị tật bẩm sinh chưa tìm được nguyên nhân. 

"Sàng lọc, chẩn đoán, tư vấn di truyền sinh sản rất quan trọng. Việc này cải thiện, nâng cao chất lượng giống nòi và sự phồn vinh của xã hội hướng tới đến mức thấp nhất những bệnh tật bẩm sinh và những bất thường sinh sản xảy ra không mong muốn ở các cặp vợ chồng", PGS.TS Nguyễn Đức Hinh cho hay.

Hiện nay, các phương pháp chẩn đoán, sàng lọc thai nhi đã có nhiều tiến bộ. Trong quá trình tư vấn di truyền và sàng lọc sơ sinh các bác sĩ đã phát hiện nhiều bệnh phổ biến và để lại hậu quả lớn như bệnh down; rối loạn nhiễm sắc thể 13, 18, 21...

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Đức Hinh, một trong những phương pháp sàng lọc trước sinh tiên tiến đang được ứng dụng tại nhiều nước phát triển là chẩn đoán di truyền trước sinh không xâm lấn NIPT (Non-Invasive Prenatal Testing) cho phép phát hiện các nguy cơ dị tật, đột biến nhiễm sắc thể... ngay từ tuần thứ 10 của thai kỳ. Thay vì phương pháp xâm lấn như chọc ối có thể gây nguy cơ sảy thai thì hiện nay với sự tiến bộ của y học, các bác sĩ chỉ cần chi phí sàng lọc trước sinh của người mẹ đang mang bầu để sàng lọc trước sinh.

Ở tuần thai thứ 10, các bác sĩ chỉ lấy từ 7-10ml máu tĩnh mạch từ cánh tay của thai phụ để xét nghiệm chẩn đoán, sàng lọc đột biến số lượng nhiễm sắc thể và phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Phương pháp này có thể thực hiện ngay từ tuần thai thứ 10, cho kết quả chính xác lên tới 99,98%, được đánh giá là an toàn tuyệt đối cho thai phụ và thai nhi, đồng thời hỗ trợ các bác sĩ tư vấn kịp thời cho thai phụ.

Sàng lọc trước sinh kết hợp với sàng lọc sơ sinh có thể giúp loại bỏ được 95% dị tật bất thường và cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh.

Một trong những phương pháp sàng lọc trước sinh tiên tiến đang được ứng dụng tại nhiều nước phát triển là chẩn đoán di truyền trước sinh không xâm lấn NIPT (Non-Invasive Prenatal Testing) cho phép phát hiện các nguy cơ dị tật, đột biến nhiễm sắc thể... ngay từ tuần thứ 10 của thai kỳ.

Phương pháp này được thực hiện khi người phụ nữ mang thai ở tuần thứ 10, thầy thuốc chỉ lấy từ 7-10ml máu tĩnh mạch từ cánh tay của thai phụ để xét nghiệm chẩn đoán, sàng lọc đột biến số lượng nhiễm sắc thể và phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Phương pháp này có thể thực hiện ngay từ tuần thai thứ 10, cho kết quả chính xác lên tới 99,98%, được đánh giá là an toàn tuyệt đối cho thai phụ và thai nhi, đồng thời hỗ trợ các bác sĩ tư vấn kịp thời cho thai phụ.


Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Sàng Lọc Trước Sinh Vào Thời Điểm 3 Tháng Đầu Thai Kỳ

 Tăng cơ hội sinh ra những đứa con khỏe mạnh nhiều hơn, giảm thiểu sự lo lắng về khả năng sinh con bị dị tật.

Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh thường được thực hiện vào 3 tháng giữa thai kỳ để đánh giá nguy cơ thai nhi mắc các dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên, không phải tất cả các mẹ bầu đều cần xét nghiệm này.

Việc thực hiện siêu âm, các xét nghiệm chẩn đoán dị tật ở thai nhi nên được thực hiện sớm từ ngày tuần thai thứ 11. 


Đây là thời điểm tốt nhất để tiến hành đo độ mờ da gáy cho thai nhi. Y bác sĩ cũng đã có thể chẩn đoán những vấn đề về dị tật hộp sọ, hội chứng down, các vấn đề về nhiễm sắc thể trong thời gian này. 

Cách phát hiện bệnh down được tiến hành như sau: 

Cách 1: Dùng máy đo để tính tuổi thai và ước lượng chiều dài của thai nhi từ đỉnh đầu cho đến cuối xương sống và đo độ mờ của da gáy 

Sức khỏe của thai nhi bình thường khi: 

+ Ở tuần thứ 6 độ mờ da gáy là 2,8mm, ở tuần thứ 11 độ mờ da gáy là 2mm. 

+ Hoặc nếu bé có độ mờ da gáy là 2,5-3,5mm thì vẫn bình thường. 

+ Chiều dài là NT là 6mm 

Cách 2: Chọc nước ối hoặc CVS để phát hiện những bất thường của nhiếm sắc thể, cách làm này cho kết quả chính xác lên đến 90%. 

Tuy nhiên kết quả kiểm tra chỉ mang tính tương đối, đôi khi không chính xác hoàn toàn khiến mẹ rơi vào trạng thái căng thẳng, lo lắng quá độ. Hơn nữa, khi sử dụng một số thủ thuật xét nghiệm còn có thể gây sảy thai, chảy máu, nhiễm trùng ối rất nguy hiểm.

Chính vì vậy đã có rất nhiều mẹ cảm thấy phân vân không biết có nên làm hay không. Khi nhận được kết quả thì nên làm gì? Có nhất thiết phải thực hiện hay không? Những trường hợp nào mới cần làm sàng lọc trước sinh? Bài viết sau đây sẽ giải đáp những thắc mắc này, mẹ tham khảo nhé!


Tuy có ý nghĩa tích cực, nhưng  sàng lọc trước sinh cũng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy không mong muốn

Sàng lọc trước sinh là gì?

Sàng lọc trước sinh là các xét nghiệm dành cho phụ nữ mang thai để biết liệu thai nhi có thể mắc những dị tật liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể như: Hội chứng Down, Edwards, Patau… Xét nghiệm sàng lọc trước sinh bao gồm 2 giai đoạn là sàng lọc và chẩn đoán.
Mẹ nên biết các phương pháp sàng lọc được dùng để xác định những nguy cơ sinh con bị dị tật. Chỉ những mẹ có kết quả sàn lọc nguy cơ cao mới được yêu cầu thực hiện chẩn đoán bằng phương pháp xâm lấn như chọc ối, sinh thiết gai nhau. Độ chính xác từ phương pháp này rất cao có thể đến 99%, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho mẹ thậm chí phát sinh dị tật ở thai nhi: Gây sảy thai, rò rỉ dịch ối, chảy máu âm đạo, thai bị thiếu chi…

Lợi ích của sàng lọc trước sinh

Tuy có thể xảy ra một vài biến cố nhưng không thể phủ nhận được những lợi ích to lớn của sàng lọc trước khi sinh mang lại:

– Tăng cơ hội sinh ra những đứa con khỏe mạnh nhiều hơn, giảm thiểu sự lo lắng về khả năng sinh con bị dị tật.

– Những trẻ bị dị tật bẩm sinh nặng sẽ là gánh nặng cho cả gia đình cũng như xã hội. Nếu phát hiện thai nhi có bất thường có thể lựa chọn chấm dứt thai kỳ.

– Trong trường hợp mẹ vẫn quyết định giữ lại thai nhi, sàng lọc trước sinh sẽ tạo điều kiện cho mẹ có thời gian chuẩn bị tâm lý cũng như biết cách chăm sóc trẻ sau này.

 Những trường hợp cần làm sàng lọc trước sinh

Có nên hay không khi làm xét nghiệm sàng lọc trước khi sinh là câu hỏi khiến nhiều mẹ bầu trăn trở, luôn phải đấu tranh tư tưởng. Tuy mang lại ý nghĩa to lớn nhưng đối với những mẹ chưa chuẩn bị sẵn sàng về tâm lý, đây lại là một rào cản khá lớn. Làm hay không, tất cả phụ thuộc vào quyết định của mẹ. Tuy nhiên, với những trường hợp sau, mẹ nhất thiết phải  sàng lọc trước sinh.

– Tiền sử gia đình có người bị dị tật bẩm sinh như chứng Down, bệnh di truyền, dị tật chân tay, sứt môi hở hàm ếch, tim… bao gồm cả hai bên họ hàng của bạn và anh xã.

– Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi: Mẹ càng lớn tuổi, thai nhi càng có nguy cơ bị dị tật. Đặc biệt những ai làm mẹ khi đã trên 40 ngoài các xét nghiệm sàng lọc như Double test, Triple test thì cần làm thêm xét nghiệm chọc ối để cho kết quả chính xác hơn.

– Dùng thuốc khi mang thai: Trong thời gian thai nghén mẹ có sử dụng các loại thuốc kháng sinh, thuốc chống chỉ định cho phụ nữ mang thai hoặc các chất có thể gây hại cho thai nhi.

– Biến chứng thai kỳ: Người mẹ mắc các bệnh tiểu đường, bệnh mãn tính như cao huyết áp, thận, tim…cũng thuộc nhóm có nguy cơ sinh con dị tật.

– Nhiễm virus: Mẹ bị nhiễm virus cúm, rubella, sởi, thủy đậu… trong thời gian đầu mang thai.

– Tiền sử sảy thai: Đối với những mẹ đã từng sảy thai 3 lần trở lên cũng nên xét nghiệm sàng lọc trước khi sinh.

– Tiếp xúc chất phóng xạ: Khi có thai người mẹ phải chụp X-quang, CT hay làm việc trong môi trường bị nhiễm nguồn phóng xạ.

Các loại xét nghiệm sàng lọc trước sinh

– Double test
Thực hiện khi thai nhi được 11-13 tuần 6 ngày tuổi. Kết hợp Double test với siêu âm độ mờ da gáy để phát hiện nguy cơ bị Down, dị tật chân tay, tim mạch, sứt môi, hở hàm…

– Triple test
Phương pháp này giúp phát hiện sớm nguy cơ thai nhi bị dị tật ống thần kinh hay không. Thực hiện trong khoảng thời gian thai nhi được 15-18 tuần tuổi.

– Chọc ối
Đây là phương pháp cho ra kết quả chính xác nhất, có thể phát hiện hơn 99% các dị tật bẩm sinh, dị tật nhiễm sắc thể và hội chứng Down. Chọc ối được áp dụng nếu hai phương pháp trên cho kết quả dương tính, khi siêu âm thấy thai nhi có bất thường như vô sọ, nứt đốt sống.

Bất cứ bậc làm cha mẹ nào cũng mong muốn con mình sinh ra phải được lành lặn và khỏe mạnh. Thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh là phương pháp giúp phát hiện sớm những bệnh lý của bào thai. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ mang thai vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc làm này.

Nhằm để phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm những bất thường của trẻ giai đoạn thai còn trong bụng mẹ và ngay sau khi trẻ ra đời để từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời giúp thai nhi và trẻ sơ sinh phát triển khỏe mạnh bình thường góp phần nâng cao chất lượng dân số. Ngày 2/6/2017, Sở y tế thành phố  Đà Nẵng Chi cục dân số - KHHGĐ phối hợp Hội LHPN – Ban dân số KHHGĐ  phường Phước Ninh đã tổ chức buổi truyền thông nói chuyện chuyên đề về lợ ích sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh cho hội viên phụ nữ và phụ nữ đang mang thai tại Trạm y tế phường.

Lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh:

sàng lọc trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu trong thời gian mang thai để chẩn đoán xác định các trường hợp bệnh do rối loạn di truyền nhiễm sắc thể ở thai nhi như: hội chứng Down (tam bội thể 13), hội chứng Ewards (tam bội thể 18) và dị tật ống thần kinh…

Sàng lọc sơ sinh là một biện pháp dự phòng hiện đại, dùng kỹ thuật y khoa nhằm tìm kiếm để phát hiện ra các bệnh liên quan đến nội tiết, rối loạn di truyền ngay khi đứa trẻ vừa ra đời, cho phép phát hiện một số bệnh lý và tật, bệnh bẩm sinh như: thiểu năng trí tuệ, thiếu men G6PD, suy giáp bẩm sinh, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh và tử vong sớm do tan máu bẩm sinh…, từ đó các bác sĩ sẽ tìm biện pháp can thiệp kịp thời đối với những bệnh có thể chữa được và tư vấn tâm lý cho bà mẹ cũng như gia đình. Thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh nếu không phát hiện thấy bất thường thì người mẹ và gia đình có thể yên tâm về tình trạng phát triển của thai nhi.

Trong 3 tháng cuối thai kỳ: không có chỉ định sàng lọc, chẩn đoán trước sinh. Tuy nhiên, các bà mẹ mang thai cần siêu âm trong thai kỳ này để đánh giá tình trạng phát triển của thai nhi và tiên lượng cho cuộc sinh nở.

 + Sàng lọc sơ sinh:

Em bé sinh ra từ 24 - 48 giờ, lấy máu ở gót chân trẻ nhằm phát hiện sớm được những dị tật ở trẻ sơ sinh mà mắt thường không nhìn thấy được. Một số dị tật được phát hiện qua sàng lọc sau sinh: suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh và một số rối loạn chuyển hóa bẩm sinh khác.

Theo khuyến cáo của bác sĩ chuyên khoa, để sinh ra những em bé khỏe mạnh, việc tham gia sàng lọc trước sinh và sáng lọc sơ sinh là cần thiết và rất quan trọng. Người phụ nữ ngay từ khi có ý định mang thai cần phải trang bị cho mình kiến thức cần thiết để góp phần giảm tỷ lệ bệnh tật ở trẻ.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, việc sàng lọc trước sinh (SLTS) – các bà mẹ khám dị tật thai nhi ở đâu tốt định kỳ, siêu âm, xét nghiệm trong thời kỳ mang thai – sẽ giúp các cặp vợ chồng biết chính xác 80 – 90% thai nhi của mình khỏe mạnh hay có vấn đề gì bất thường. Sàng lọc trước sinh và sơ sinh sẽ hạn chế tối đa dị tật từ trong bụng mẹ và giúp trẻ sinh ra phát triển bình thường.

Các bước thực hiện sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh

Để phát hiện và xác định các nguyên nhân gây ra tật, bệnh bẩm sinh ở thai nhi và trẻ sơ sinh, thai phụ cần đến khám và thực hiện sàng lọc theo hướng dẫn của bác sĩ tại các cơ sở y tế có chuyên khoa sản.

+ Sàng lọc trước sinh:

Trong 3 tháng đầu thai kỳ: siêu âm hình thái thai nhi, đo độ mờ da gáy vào lúc tuổi thai từ 11 - 13 tuần 6 ngày và thực hiện một số xét nghiệm cần thiết như: Xét nghiệm Double Test để phát hiện nguy cơ mắc hội chứng Down, dị tật ống thần kinh; tầm soát virus gây dị tật thai nhi qua xét nghiệm (CMV IgM, CMV IgG, Rubella IgM, Rubella IgG, Toxo IgM, Toxo IgG) và một số xét nghiệm tầm soát bệnh thiếu máu, giang mai, viêm gan B,C.

Trong 3 tháng giữa thai kỳ: thực hiện một số xét nghiệm cần thiết vào lúc tuổi thai từ 14 - 21 tuần; siêu âm hình thái và cấu trúc các cơ quan của thai nhi vào lúc tuổi thai từ 20 - 24 tuần nhằm phát hiện các bất thường của hệ thần kinh, hệ tim mạch, ở lồng ngực, dị tật của dạ dày - ruột, sinh dục - tiết niệu, xương…

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

Xét Nghiệm NIPT Phát Hiện Bất Thường NST Số 21

Nhờ phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn dựa trên xét nghiệm ADN của thai nhi trong máu mẹ, các bác sỹ có thể phát hiện được di tật thai nhi từ khi mới được 9 tuần tuổi thay vì phải đợi tới 12 tuần tuổi như trước đây, đồng thời làm giảm nguy cơ sảy thai so với phương pháp chọc ối thông thường.

Ở người bình thường có 46 NST chia thành 22 cặp NST thường và 1 cặp NST giới tính. Nếu có bất kì sự thay đổi nào làm tăng số lượng (Trisomy: thêm một nhiễm sắc thể), đột biến mất đoạn hay vi mất đoạn NST (deletetion, microdeletion), rối loạn đơn gen... sẽ gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Bệnh liên quan đến các rối loạn NST thường gặp nhất ở trẻ là hội chứng Down (tần suất 1/500-1/700 trẻ), tiếp theo là hội chứng Edward (Trisomy 18) , Patau (Trisomy 13), hội chứng Tuner (thiếu một NST giới tính 45XO) …


xét nghiệm nipt tình trạng thai nhi có 3 NST 21: Trẻ sẽ bị thiểu năng trí tuệ, dị tật ở tim, hệ tiêu hóa và các cơ quan khác. Hội chứng Edward là dư thừa NST số 18, trẻ thường bị đa dị tật như kênh nhĩ thất, tay co quắp chồng ngón, cằm nhỏ, thoát vị rốn…, có thể gây chết thai hoặc tử vong sau sinh, tỷ lệ sống hơn một năm tuổi là 5% - 10%. Tam bội NST số 13 sẽ gây nên hội chứng Patau. Thai nhi bị hội chứng này thường sẽ bị sẩy thai, thai lưu hoặc biểu hiện đa dị tật khi siêu âm hình thái như não thất duy nhất, dị tật tim, sứt môi chẻ vòm, đa ngón…

Thai nhi bất thường nhiễm sắc thể, làm sao để biết?

Thai nhi có bất thường nhiễm sắc thể thường có nguy cơ sẩy thai sớm, thai lưu hoặc thai chết ngay sau sinh. Nhiều trường hợp thai bị rối loạn nhiễm sắc thể sẽ có biểu hiện đa dị tật trên siêu âm hình thái học và đã được chỉ định ngừng thai kỳ để tránh cho ra đời các trẻ khuyết tật gây gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều bất thường nhiễm sắc thể không có biểu hiện bất thường trên siêu âm, nên bào thai vẫn sống và phát triển khỏe mạnh cho đến khi chào đời như hội chứng Down.

Với sự tiến bộ của Y học, hiện nay có rất nhiều phương pháp để sàng lọc trước sinh như thế nào và chẩn đoán các bất thường liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể trước sinh. Có thể kể ra vài phương pháp phổ biến như siêu âm đo độ mờ da gáy lúc thai 12 tuần, xét nghiệm double test, xét nghiệm triple test… Tuy nhiên tỷ lệ phát hiện bệnh chưa cao và vẫn có 1 tỷ lệ kết quả dương tính giả và âm tính giả nhất định.

 Ngoài ra, nếu thai phụ được xác định có nguy cơ cao sau khi làm các xét nghiệm sàng lọc kể trên thì sẽ được tư vấn thực hiện tiếp các xét nghiệm nipt  để chẩn đoán xác định là sinh thiết gai nhau hay chọc ối. Vì đây là các thủ thuật xâm lấn nên sẽ có nguy cơ gây sẩy thai và nhiễm trùng cho mẹ. Nguy cơ sẩy thai sau các thủ thuật này khoảng 1/100. Có nghĩa là cứ 100 ca thực hiện sinh thiết gai nhau hoặc chọc ối, sẽ có một trường hợp có nguy cơ bị sẩy thai, và thường là rơi vào các trường hợp thai bình thường.

Kỹ thuật tiên tiến này đang được triển khai tại Bệnh viện Vinmec có thể mang lại cải thiện vượt trội về kết quả sàng lọc trước sinh, giúp can thiệp sớm và hiệu quả với những thai nhi có dị tật. Đây được coi là “chìa khóa” để “giải mã” dị tật thai nhi từ lúc tuổi thai còn rất nhỏ.

Dịch vụ Xét nghiệm không xâm lấn NIPT đang được triển khai tại Bệnh viện Vinmec có thể mang lại cải thiện vượt trội về kết quả sàng lọc trước sinh, giúp can thiệp sớm và hiệu quả với những thai nhi có dị tật.

Sau 5 năm kết hôn, chị N.T (32 tuổi – Mỹ Đình – Hà Nội) mới mang thai lần đầu tiên. Bên cạnh niềm vui sắp làm mẹ, chị cũng không khỏi lo lắng vì trong gia đình mình hiện có người bị dị tật bẩm sinh. Qua tìm hiểu, chị biết rằng không ít trường hợp người thân trong gia đình hoàn toàn bình thường nhưng khi con cái sinh ra vẫn có thể mang dị tật. Điều đó khiến chị thực sự băn khoăn về tình trạng của con mình.

Nỗi lo lắng của chị N.T không phải cá biệt bởi dị tật thai nhi để lại hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội là một thực tế đã được nhìn thấy rõ. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của y học và nhận thức về sức khỏe của cộng đồng ngày một tăng lên, sàng lọc chẩn đoán trước sinh ngày càng trở nên thiết yếu và phổ biến nhằm giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ dị tật, tỷ lệ chậm phát triển về thể chất và trí tuệ ngay từ giai đoạn đầu đời.

Xét nghiệm ADN thai nhi để phát hiện dị tật

Ở cả góc độ khoa học lẫn thực tiễn, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) dựa trên xét nghiệm nipt  ADN của thai nhi trong máu mẹ mà Bệnh viện Vinmec đang triển khai đang tỏ ra vượt trội bởi tính chính xác và độ an toàn cao hơn hẳn so với các phương pháp truyền thống.

Các phương pháp chẩn đoán trước sinh truyền thống gồm chọc hút dịch ối, sinh thiết tua rau cho độ chính xác cao nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố không an toàn như tăng nguy cơ sảy thai, rò dịch ối, chảy máu âm đạo, nhiễm trùng, …

Phương pháp sàng lọc truyền thống gồm kết hợp sàng lọc huyết thanh mẹ (double test, triple test) và siêu âm vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của thai phụ vì độ dương tính giả cao, từ đó làm tăng tỷ lệ thai phụ phải chọc ối không cần thiết.

Với những ưu điểm vượt trội của mình, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) khắc phục được nhiều hạn chế trên. Quá trình mang thai, trong máu người mẹ ngoài ADN của bản thân còn có ADN tự do của thai nhi.

Thay vì chọc ối, sinh thiết rau gây ảnh hưởng trực tiếp tới thai nhi thì phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) an toàn hơn hẳn vì chỉ cần lấy 20ml máu trong tĩnh mạch người mẹ từ tuần thai thứ 9 trở đi để tiến giải trình tự ADN. Kết quả này sẽ giúp các chuyên gia phát hiện thai nhi có nguy cơ cao bất thường của một số nhiễm sắc thể như thường gặp như hội chứng Down, Patau, Edward, Turner, Klinerfelter, …

Tiến sĩ Phạm Thu Hằng – người đã từng có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Di truyền và Sinh học phân tử - Trung tâm Công nghệ Gen - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec cho biết: “So với phương pháp truyền thống, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) cho kết quả chính xác hơn (đặc biệt đối với hội chứng Down), đồng thời làm giảm tỷ lệ các thai phụ có chỉ định chọc ối không cần thiết.

 Ưu điểm vượt trội của phương pháp này là không xâm phạm thai, có thể tiến hành sớm từ tuần thứ 9 thai kỳ trở đi”.

Hiện nay, Bệnh viện ĐKQT Vinmec có một đội ngũ chuyên gia tư vấn bài bản về di truyền cho khách hàng trước khi đưa ra quyết định làm NIPT. Bên cạnh đó, Trung tâm Công nghệ Gen Vinmec được trang bị hệ thống máy móc hiện đại, kết hợp công nghệ với các trung tâm nghiên cứu Công nghệ Gen tại Mỹ cho kết quả nhanh, chính xác và an toàn vượt trội.


Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

Bà Bầu Có Nên Ăn Qủa Nhãn Hay Không

Nhiều bài thuốc từ long nhãn được giới thiệu để sử dụng như những người tâm huyết không đủ, tim đập nhanh, hay hồi hộp, mất ngủ, hay quên có thể lấy 15g long nhãn, cho vào nước đun lên ăn trước khi đi ngủ.

Theo các bác sĩ, dù nhãn là quả giàu dinh dưỡng tuy nhiên với bà bầu cũng không nên ăn nhiều nhãn đặc biệt là ba tháng đầu vì nhãn rất nóng có thể gây sảy thai.



Nhãn giàu dinh dưỡng nhưng bà bầu không nên ăn nhiều.

Trên diễn đàn mẹ và bé, nhiều mẹ bầu lo sợ không dám ăn nhãn vì sợ ảnh hưởng đến con. Chị Khuất Thu Hà - Dương Nội, Hà Nội kể năm 2013, chị mang thai lần đầu và vào mùa nhãn nên chị ăn rất nhiều nhãn vì nghĩ nhãn ngọt, ngon.

Vì lúc mang thai chị Hà nghỉ ở nhà nên thơì gian rảnh rỗi càng ăn vặt nhiều. Trong đó món nhãn cả chị và ông xã đều thích nên mua nhiều hơn. Sau khi ăn cả túi nhãn to, chị Hà đã bị đau bụng và chảy máu âm đạo. Chồng chị vội đưa vào viện nhưng bác sĩ kết luận bị sảy thai và nghi do ăn nhãn.

Chị Hà lúc ấy mới tìm hiểu thì nhiều người nói mang thai không nên ăn nhiều nhãn nhưng chị chủ quan nghĩ hoa quả loại nào cũng tốt, nhãn vào mùa ăn cũng yên tâm hơn các hoa quả nhập khẩu khác.

Chị Nguyễn Thị Thảo - Kim Liên, Hà Nội kể, chị mang thai bé Sò vào mùa hè nên nhãn cũng là hoa quả phổ biến. Chị Thảo có tham gia buổi trò chuyện với bác sĩ về chăm sóc thai cũng như nên ăn gì, kiêng gì. Trong buổi nói chuyện, chị Thảo nghe bác sĩ tư vấn không nên ăn nhiều nhãn, ăn cà muối, quả đào lúc mang thai và cả thai kỳ chị đều hạn chế các loại quả đó dù rất thích ăn.

Theo lương y Vũ Quốc Trung - quả nhãn cho bà bầu trong đông y hay gọi là long nhãn, tươi, khô đều rất dễ ăn, quả nhãn tươi cùi trong long lanh óng ánh, nhiều nước, vị ngọt thơm, là thứ quả quý. Long nhãn khô dễ cất giữ, vận chuyển, ăn lúc nào cũng được, có thể ngâm rượu, nấu cao, làm canh đều phù hợp.

Thiếu máu, thần kinh suy nhược có thể lấy 6 quả nhãn, 10 hạt sen, 10 quả khiếm thực đổ nước vào đun nhừ rồi ăn.

Long nhãn có tác dụng phụ vị ngọt trợ hỏa (nóng), nếu như tỳ vị hỏa thịnh, ho ra máu, đầy bụng nôn tháo, đầy hơi khó chịu thì không nên ăn long nhãn. 

Đông y thường sử dụng nhãn ở dạng long nhãn sấy khô, sau đó được sử dụng dưới nhiều dạng như thuốc sắc, thuốc cao, thuốc hoàn, rượu thuốc… riêng rượu thuốc có thể ngâm phối hợp với các vị thuốc khác để bồi bổ cơ thể, chống mất ngủ, suy nhược thần kinh... và rất nhiều bệnh khác.

Tuy nhiên, quả nhãn lại "chống chỉ định" với phụ nữ có thai vì phụ nữ có thai phần lớn có triệu chứng nóng trong, nếu ăn nhãn dễ khiến tình trạng động huyết động thai, ra huyết đau bụng, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí, có nguy cơ dẫn tới sảy thai, đặc biệt là phụ nữ có thai thời kỳ đầu đến 7 – 8 tháng, không nên ăn nhiều  nhãn vì dễ sinh non. Tìm hiểu thêm về bà bầu không nên ăn gì

Ngoài ra, loại quả này là nguyên nhân gây ra mụn nhọt nên người đang bị mụn nhọt cũng không nên ăn nhiều. Lượng đường cao trong nhãn cũng không phù hợp với người đang bị béo phì, người muốn giảm cân, người mắc bệnh tiểu đường, người bị tăng huyết áp.

Trong long nhãn có nhiều chất dinh dưỡng có tác dụng bổ dưỡng rất tốt. Trong sách từ điển cây thuốc Việt Nam, quả nhãn được  giới thiệu là loại quả giàu dinh chất dinh dưỡng. Cùi nhãn tươi có: Nước77,15%, Tro 0,01%, Chất béo 0,13%, Protid 1,47%, hợp chất có Nitrogen tan trong nước 20,55%, Saccacrose 12,25%, Vitamin A, B. Cùi nhãn khô có nước 0,85%, Chất tan trong nước 79,77%, Chất không tan trong nước 19,39%, Tro 3,36%. Trong phần tan trong nước có Glucose 26,91%, Sacarose 0,22%, Acid tartric1,26%, Chất có Nitrogen 6,309%. Hạt nhãn chứa tinh bột, Saponin, Chất béo và Tanin. Lá chứa Quercetrin, Quercetin, Tanin...

Đông y cho rằng, long nhãn vị ngọt tính ôn, tác dụng bổ dưỡng tâm tỳ, dưỡng huyết an thần.

Nhiều bài thuốc cho bà bầu từ long nhãn được giới thiệu để sử dụng như những người tâm huyết không đủ, tim đập nhanh, hay hồi hộp, mất ngủ, hay quên có thể lấy 15g long nhãn, cho vào nước đun lên ăn trước khi đi ngủ. Nếu bị tỳ hư, đi tả, lấy 15g long nhãn, 3 miếng gừng tươi, đổ nước vào đun lên uống.


Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Bà Bầu Có Nên Uống Nước Dừa Hay Không ?

Nước dừa từ lâu đã được xem là thức uống vàng của các mẹ bầu. Tuy nhiên, bên cạnh công dụng tuyệt vời các mẹ cũng nên lưu ý cách uống cũng như thời điểm thai kì thích hợp để tránh gây ra những tác dụng phụ ngoài ý muốn.

bà bầu uống nước dừa có thể uống 1-2 trái dừa/ ngày để bổ sung nước, khoáng chất giúp mẹ giảm stress, bổ sung năng lượng và cung cấp nước ối nhưng không nên uống vào buổi sáng, buổi tối vì có thể gây năng bụng, mất ngủ.


Lợi ích tuyệt vời của nước dừa khi mang thai

Vì nước dừa không chứa chất béo và cũng ít calo nên đồ uống này không gây tích tụ mỡ trong cơ thể với phụ nữ thừa cân hoặc những mẹ bầu không muốn tăng cân nhiều. Nước dừa giúp duy trì sức khỏe và là đồ uống tuyệt vời thay thế những loại nước ngọt có đường không lành mạnh.

Bổ sung chất điện phân

Ngoài chất lỏng, nước dừa cung cấp chất điện phân cần thiết để giữ cho cơ thể đủ nước như canxi, kali, natri và phốt pho. Những chất dinh dưỡng này giúp duy trì huyết áp, cân bằng chất lỏng, điều chỉnh PH và tăng cường hoạt động của các cơ, giúp giảm các triệu chứng phổ biến khi mang bầu như buồn nôn, ốm nghén, tiêu chảy, nôn ói….

Lợi tiểu

bà bầu uống nước dừa có chứa nhiều khoáng chất như kali và magie nên sẽ giúp mẹ bầu lợi tiểu, loại bỏ những độc tố và làm sạch đường tiết niệu của bạn. Chính công dụng này lại rất có lợi cho thận và ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu. Những tác dụng này cũng giúp ngăn ngừa nguy cơ sinh non ở mẹ bầu.

Giảm ợ nóng và táo bón

Ợ nóng và táo bón là 2 triệu chứng phổ biến và gây khó chịu cho mẹ bầu. Chất xơ trong nước dừa sẽ giúp cải thiện hệ tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón hiệu quả. Nước dừa cũng giúp cải thiện quá trình trao đổi chất, làm trung hòa axit và giảm triệu chứng ợ nóng.

Tăng cường hệ thống miễn dịch

Vì nước dừa chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết nên sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh cho mẹ bầu. Axit lauric trong nước dừa cũng có tác dụng chống lại virus monolaurin – loại virus dễ gây nhiễm trùng cho mẹ bầu.

Tốt cho tim mạch

Trong nước dừa có chứa kali, magiê, axit lauric… có công dụng điều chỉnh huyết áp, tăng cholesterol tốt và giảm cholesterol xấu. Những loại vitamin và protein cần thiết cũng giúp cải thiện lưu thống máu và có lợi cho tim mạch mẹ bầu.

Phòng ngừa tiểu đường thai kỳ

Hàm lượng đường trong nước dừa cũng thấp hơn những loại nước ngọt có đường khác nên giảm nguy cơ mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ.

Cung cấp năng lượng

Nước dừa giúp tăng năng lượng, làm giảm triệu chứng mệt mỏi và kiệt sức ở mẹ bầu trong suốt thai kỳ. Tác dụng dưỡng ẩm của nước dừa cũng rất tốt cho làn da, tăng độ đàn hồi cho da mẹ bầu và giảm triệu chứng rạn da. Tìm hiểu thêm về bà bầu nên ăn gì

Thời điểm thai kì mẹ bầu nên tránh uống nước dừa

Theo GS.TSKH Bùi Quốc Châu, thì trong nước dừa có hàm lượng chất béo cao (khoảng 2%), vì thế nếu bà bầu uống nhiều nước dừa sẽ gây nên các triệu chứng đầy bụng, khó tiêu. Đặc biệt trong thời gian mang thai 3 tháng đầu không nên uống nước dừa, vì nó có thể làm tình trạng sức khỏe trở nên mệt mỏi, khó chịu chịu hơn.

– Bên cạnh đó, nước dừa (nhất là dừa xiêm) là là thức uống có tính âm, có nghĩa giống như một loại quả giải khát, giúp giảm nhiệt cho cơ thể, làm mát toàn thân, làm các cơ trở nên mềm yếu, hạ huyết áp, vì thế không tốt cho bà bầu 3 tháng đầu thai kỳ, nếu lạm dụng uống quá nhiều có thể dẫn tới sảy thai.

– Tuy nhiên, sau 3 tháng thai kỳ thì bà bầu uống nước dừa có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nó không những có lợi cho sức khỏe bà bầu, mà nó còn rất tốt cho thai nhi. Nhưng không phải vì thế mà bạn lạm dụng uống quá nhiều nước dừa, mà theo các chuyên gia thì mỗi ngày bà bầu nên uống 1 quả dừa là tốt nhất.

Như vậy, lượng nước dừa lý tưởng nhất cho bà bầu là uống từ 1 – 2 quả dừa mỗi ngày.

Hiện nay, các mẹ bầu thường bảo nhau rằng uống nước dừa sẽ giúp con da trắng. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh việc này. Đây chỉ là một kinh nghiệm do các mẹ bầu truyền miệng nên mức độ tin cậy vẫn chưa hoàn toàn được đảm bảo. Vì thế, mẹ không nên tin mà uống quá nhiều nước dừa.

Những mẹ bầu có tiền sử suy nhược hoặc huyết áp thấp nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi uống nước dừa.

Để đảm bảo vệ sinh, an toàn cho sức khoẻ, các mẹ nên chọn mua dừa quả còn trong buồng về lấy nước uống trực tiếp, không uống nước dừa đã lấy ra khỏi quả để qua đêm vì không khí có thể sẽ làm biến chất trong nước dừa.

Bản chất nước dừa có tính hàn, vì vậy không nên dùng với đá. Nên uống từ từ chứ không nên uống hết cả cốc nước một lúc. Khi đi bộ hoặc tập thể dục về, cơ thể đang mệt mỏi và nóng, mẹ bầu cũng không nên uống nước dừa ngay bởi dễ gây cảm lạnh.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Trong 3 Tháng Đầu Thai Kỳ Có Những Gì Xảy Ra Mà Bạn Chưa Biết

Ở tuần thai thứ 6, dù đã có nhịp tim thai nhưng em bé mởi chỉ nhỏ bằng hạt đậu lăng. Còn tử cung người mẹ có kích thước bằng khoảng quả táo.
Có khoảng 2% các ca mang thai sẽ là cặp song sinh. Song sinh giống hệt nhau xảy ra khi một trứng được thụ tinh bởi 1 tinh trùng sau đó chia thành 2 hợp tử riêng biệt và phát triển thành 2 em bé. 
Các dấu hiệu bên ngoài về sự có mặt của 3 tháng đầu thai kỳ trong cơ thể mẹ chắc chắn sẽ rất rõ ràng và mẹ dễ dàng nhận ra như mệt mỏi, ốm nghén, nôn ói… Nhưng bên trong tử cung mẹ, em bé đang phát triển thế nào?

Cùng khám phá những sự thật thú vị về cuộc sống bí mật của thai nhi trong bụng mẹ:
Mặc dù khi quan hệ tình dục, có khoảng 100.000 chú tinh trùng bơi vào cổ tử cung phụ nữ nhưng chỉ có 1 tinh trùng được thụ tinh với trứng để hình thành lên em bé.
24 giờ là thời gian cần thiết cho tinh trùng và trứng thụ tinh. Lúc này, quá trình mang thai bắt đầu dù người mẹ chưa biết mình có thai.
Có khoảng 2% các ca mang thai sẽ là cặp song sinh. Song sinh giống hệt nhau xảy ra khi một trứng được thụ tinh bởi 1 tinh trùng sau đó chia thành 2 hợp tử riêng biệt và phát triển thành 2 em bé. 
 cặp song sinh không giống hệt nhau được hình thành khi hai trứng riêng biệt được rụng và thụ tinh bởi 2 tinh trùng riêng biệt. Việc có cặp song sinh giống nhau hoàn toàn hoặc không giống nhau là hoàn toàn ngẫu nhiên.
Giới tính của em bé cũng được xác định ngay khi thụ thai. Đó là bé trai hay bé gái đều do nam giới quyết định. Tất cả trứng đều mang nhiễm sắc thể X, trong khi tinh trùng mang nhiễm sắc thể X hoặc Y. 
nếu tinh trùng ADX thụ tinh cho trứng thì đó sẽ là một cô bé còn nếu là ADY thì sẽ là một bé trai.
Ở tuần thai thứ 6, dù đã có nhịp tim thai nhưng em bé mởi chỉ nhỏ bằng hạt đậu lăng. Còn tử cung người mẹ có kích thước bằng khoảng quả táo.
Não của thai nhi ở tuần thứ 7 đã được chia thành 3 khu vực riêng biệt gồm não trước, não giữa và não sau.
Ở tuần thứ 8, em bé đã chính thức được gọi là một bào thai. Nếu bạn siêu âm ở tuần này, sẽ dễ dàng nghe được nhịp tim thai nhi. Cũng tại thời điểm này, nguy cơ sảy thai giảm xuống còn 2%.
Vào tuần thai thứ 10, em bé có kích thước bằng khoảng quả cam, khuôn mặt đã phân biệt rõ đôi mắt, tai, mũi, miệng, 4 chồi chân tay và các ngón chân, ngón tay. Em bé cũng đã có móng tay nhỏ và chồi răng sữa.
Em bé 3 tháng đầu thai kỳ cũng đã biết phản ứng với những hành động của bố mẹ. Nếu mẹ chạm vào bụng và nô đùa với bé, bé có thể sẽ di chuyển xung quanh tử cung nhưng còn quá nhẹ để mẹ có thể cảm nhận được.
Về nhịp tim của thai nhi, trái tim em bé sẽ đập 110-160 lần mỗi phút – gấp đôi nhịp tim của người trường thành.
Cũng ở tuần thai thứ 10, tất cả các cơ quan chính của em bé bao gồm tim, phổi, thận, não và ruột đã được hình thành đầy đủ. Tìm hiểu thêm về 3 tháng cuối thai kỳ
Trái tim em bé sẽ đập 110-160 lần mỗi phút – gấp đôi nhịp tim của người trường thành.
Phản xạ của thai nhi 3 tháng đầu thai kỳ bắt đầu phát triển từ tuần 12. Nếu bé vô tình cọ khuôn mặt vào cánh tay hoặc chân thì đôi môi bé sẽ có phản xạ mút. Còn nếu chạm tay vào mí mắt thì mắt sẽ nhấp nháy.
Cũng ở tuần thai này, theo nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Đại học Belfast, nếu em bé thường xuyên mút ngón tay cái của bàn tay trái thì rất có thể bé sẽ là người thuận tay trái và ngược lại, nếu mút ngón tay cái của bàn tay phải sẽ là người thuận tay phải.

Bà Bầu Không Nên Ăn Gì Khi Đang Có Em Bé

Mỗi người đều có những món ăn yêu thích riêng. Bình thường thoải mái ăn không sao nhưng khi mang thai mẹ cần tìm hiểu kĩ xem món đó có ăn được không, ăn bao nhiêu là vừa. Bởi vì lúc này cơ thể mẹ thay đổi nhiều, bụng mẹ còn chứa thêm em bé. Nếu ăn bừa bãi, ăn những thứ ảnh hưởng đến tử cung, thai nhi… thì rất nguy hiểm.

Những thực phẩm bà bầu không nên ăn gì hay chứa vi khuẩn listeria là: thịt muối, pho mát mềm, sữa chưa tiệt trùng. Mẹ bầu sức đề kháng yếu, bụng dạ yếu cộng với thai nhi còn non nớt, nếu ăn phải lượng vi khuẩn listeria lớn thì rất dễ bị đau bụng, nôn ói, loét dạ dày, động thai.



Các loại cá có kích thước lớn ngoài khơi xa thường bị nhiễm thủy ngân nặng. Điển hình là cá mập, cá kiếm, cá thu, cá kình… Trong thời gian mang thai, mẹ vẫn được phép ăn nhưng nếu ăn quá nhiều, quá thường xuyên thì cơ thể sẽ bị dung nạp lượng thủy ngân lớn. Thủy ngân là chất cực độc có thể khiến thai nhi bị dị dạng, tổn thương não, chậm phát triển, ảnh hưởng đến sức khỏe và trí tuệ của con sau này.Tìm hiểu thêm về bà bầu nên ăn gì

Các loại hải sản, thủy sản như hàu, trai, ốc, hến giàu canxi và dưỡng chất cần thiết cho cơ thể mẹ và thai nhi. Tuy nhiên, chúng sống ở đáy nước, ngay lớp cát, bùn… nên thường nhiễm kí sinh trùng, chất bẩn… Mẹ bầu muốn ăn phải chọn ăn loại còn tươi, đem vệ sinh, ngâm rửa kĩ và nấu chín. Nếu vỏ của chúng chưa mở thì mẹ không nên ăn vì có thể con đó còn sống.

Gan chứa một số chất bổ cho cơ thể (điển hình là vitamin A). Tuy nhiên, bà bầu và trẻ nhỏ không nên ăn nhiều vì đây vốn là bộ máy giải độc, là “kho” chứa nhiều chất độc hại trong cơ thể gà, heo, bò… Mặt khác, mẹ mang thai 3 tháng đầu kiêng kỵ ăn nhiều vitamin A vì dễ gây quái thai.

Có nhiều nghiên cứu gây tranh cãi về tác dụng của đậu nành tới sức khoẻ sinh sản của bé trai. Cụ thể thì một số nhà khoa học cho rằng đậu nành nhiều hoóc môn sinh sản nữ (oestrogen) nên có thể gây ra các bất thường ở cơ quan sinh sản của bé trai. Tốt nhất, bà bầu không nên ăn gì ? các sản phẩm làm từ đậu nành một cách vừa phải.

Măng tươi có vị đắng, hơi the… Loại thực phẩm này tuy chế biến được nhiều món khoái khẩu (ví dụ: măng xào thịt, bún măng gà, gỏi măng…) nhưng lại có hàm lượng Cyanide rất cao (khoảng 230mg/kg). Mẹ bầu ăn nhiều măng chứa Cyanide có thể tạo thành chất độc Acid Cyanhydric (HCN) gây hại cho thai.

Các món ăn làm từ khoai mì rất dân dã, nhiều người khoái khẩu (khoai mì hấp nước cốt dừa, bánh tằm mì, bánh khoai mì nướng…). Tuy nhiên, đây là thực phẩm chứa nhiều axit cyanhydric (chứa nhiều nhất trong khoai mì cao sản) nên bà bầu ăn vào dễ bị rối loạn tiêu hóa, ngộ độc thức ăn, ảnh hưởng đến hệ thần kinh của thai nhi.

Mẹ bầu thai yếu, động thai, có tiền sử sảy thai, động thai, đẻ non, hiếm muộn… thì nên hạn chế ăn rau ngót để tránh xảy ra biến chứng nguy hiểm. Đây là món bà bầu không nên ăn trong 3 tháng đầu và cả những tháng sau (nếu thai yếu) mà mẹ nhất định phải biết.

Ăn ngải cứu bồi bổ cho thai. Có nhiều bài thuốc chữa động thai với nguyên liệu từ ngải cứu và trứng gà. Tuy nhiên, nếu mẹ bầu ăn với lượng lớn có thể làm sẩy thai ngay lập tức. Tốt nhất là cẩn trọng khi ăn món này.

Hiện nay, cà phê là thức uống khá thân thuộc với nhiều người. Tuy nhiên, với các mẹ bầu thì nên hạn chế vì nó chưa cafein. Chất này đi qua nhau thai làm rối loạn quá trình phát triển của thai nhi, ảnh hưởng đến hệ thần kinh của trẻ. Dân gian còn quan niệm rằng bà bầu uống cà phê nhiều thì con sinh ra sẽ có làn da đen thui xấu xí.

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Mang Thai 3 Tháng Đầu Có Nên Uống Nước Mía Không Và Vì Sao

Ở đất nước có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam thì nước mía là thức uống vừa mát vừa rất bổ dưỡng, đặc biệt là trong những ngày hè. Tuy  nhiên, việc uống nước mía trong 3 tháng đầu khi mang thai có nên hay không?

Khi mang thai 3 tháng đầu có nên uống nước mía, chế độ dinh dưỡng được xem là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của thai kì. Uống nước mía khi mang thai là một chủ đề dinh dưỡng được nhiều mẹ bầu quan tâm. Trên các diễn đàn dinh dưỡng, đây chính là câu hỏi được hỏi nhiều nhất. Vậy thực chất vấn đề này như thế nào? Nên hay không uống nước mía trong 3 tháng đầu? Ngay bây giờ hãy cùng babauconen.com tìm hiểu vấn đề này dưới bài viết dưới đây nhé!


Mía là nguyên liệu để chể biến thành cá sản phẩm đường, rỉ mật…Ngoài ra nước mía còn đóng vai trò là nước giải khát hữu ích ở các nước có nền nhiệt cao như Việt Nam. Từ lâu, những nước nhiệt đới đã có nhiều cách chế biến các món nước giải khát từ mía. Với hơn 70% thành phần là các loại đường, nước mía được xem là thức uống giàu năng lượng cho phụ nữ mang thai. Thậm chí có người còn sử dụng nước mía như một thực phẩm chủ yếu hàng ngày. Tuy chứa hàm lượng đường lớn nhưng có khả năng bão hòa chuyển hóa tốt nên nước mía không gây nguy hại như các nguyên liệu đường khác.

Các chuyên gia về dinh dưỡng bà bầu đã chỉ ra, việc uống nước mía trong thời kì mang bầu không chỉ giúp các mẹ có đủ năng lượng chăm sóc thai nhi mà  còn làm đẹp da và chống lại các hiện tượng lão hóa trên da và tóc. Trong giai đoạn mới mang thai cho đến tháng thứ 3 một số bà bầu có hiện tượng nghén nặng. Nếu đặc tính nghén kị đồ ngọt thì các mẹ bầu không nên uống nước mía vì có thể làm tăng chiệu chứng nghén và gây nên tình trạng buồn nôn, khó tiêu. Nếu các mẹ có biểu hiện nghén thèm ngọt thì cần chủ động kìm hãm mức độ tiếp nạp nồng đồ đường vì nếu hàm lượng đường quá cao có thể gây nên một số bệnh lý nguy hiểm.  Sau tháng thứ 3, các mẹ có thể uống nước mía với một liều lượng hợp lý để đảm bảo sức khỏe cho mẹ bầu và sức khỏe cho thai nhi.

Việc ăn uống của bà bầu trong 3 tháng đầu cũng như suốt thời kỳ mang thai không hề đơn giãn. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu nên ăn gì bạn cần phải tìm hiểu và nên bổ sung kiến thức dinh dưỡng ăn uống hằng ngày. Để các bà bầu có thể yên tâm uống nước mía, chúng tôi xin chia sẻ những công dụng của nước mía đối với thai phụ và thai nhi:

Lợi ích của nước mía đối với con người là không thể bàn cãi, nước mía chứa rất nhiều các vitamin A, C, nhóm B,… ngoài ra còn có chứa các chất : canxi, magie, kali, kẽm, và nhiều các chất chống oxy hóa khác.

Từ các nhóm chất đó, ta có thể thấy nước mía rất tốt cho cơ thể con người và đặc biệt là với phụ nữ mang thai.

Tuy nhiên, nhiều mẹ sẽ lo sợ lượng đường trong nước mía nhiều sẽ không tốt cho thai nhi, các chuyên gia đã đưa ra phân tích về lợi ích và các lưu ý khi uống nước mía đối với phụ nữ mang thai.

Lợi ích là vậy, nhưng mang thai 3 tháng đầu có nên uống nước mía ?
Theo phân tích, trong 100ml nước mía chứa khoảng 12g đường saccaro, một số chất dinh dưỡng như trên, cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và đặc biệt là trong giai đoạn 3 tháng đầu khi mang thai.

Axit alpha hydroxyl ( hay AHA ) trong nước mía hỗ trợ tốt cho dinh dưởng của làn da, hạn chế các vấn đề như sạm da, rạn da khi mang thai 3 tháng đầu có nên uống nước mía, nổi mụn cho các mẹ bầu.

Trong 3 tháng đầu của thai kì, các mẹ sẽ không nhận thấy rõ sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi của làn da nhưng nó vẫn âm thầm tiến triển, các mẹ nên uống nước mía để hạn chế việc này nhé!

Uống nước mía giúp tăng cường rất nhiều calo, giúp các mẹ bầu hạn chế mệt mỏi, mất năng lượng khi bị ốm nghén trong 3 tháng đầu của thai kì.

Các chất chống oxy hóa trong nước mía giúp mẹ cải thiện sức khỏe và tăng cường kháng thể chống lại các bệnh vặt, đương nhiên, các chất chống oxy hóa giúp mẹ ngăn ngừa các bệnh như ung thư vú rất hiệu quả.

Kali có trong nước mía, giúp các bà bầu cải thiện hệ tiêu hóa, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kì, nhiều mẹ sẽ có hiện tượng ăn uống khó khăn, làm cho hệ tiêu hóa chịu áp lực lớn, dễ gây táo bón, lời khuyên chỉ đơn giản là nên uống nước mía trong giai đoạn 3 tháng đầu khi mang thai này.

Tuy nhiên, Giai đoạn mang thai 3 tháng đầu rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi và em bé sau này, nên các mẹ nên có khẩu phẩn ăn thật đa dạng và chỉ nên xem nước mía như là thực phẩm bổ sung trong giai đoạn 3 tháng đầu khi mang thai này.

Ngoài nước mía, các mẹ có thể tự làm các loại nước trái cây khác phù hợp với mẹ bầu ở bài viết sau: Tự làm 9 loại nước uống cho bà bầu vào mùa hè

chỉ nên sử dụng 1 ly nước mía trên ngày khi mang thai 3 tháng đầu

Lượng nước mía khuyến cáo cho các mẹ trong 3 tháng đầu khi mang thai là chỉ nên uống 1 ly nước mía/ngày đồng thời cố gắng bổ sung nhiều rau quả tươi, để hỗ trợ cho sự phát triển của bé.

Giai đoạn mang thai 3 tháng đầu nên uống nước mía nhưng nên uống nước mía có sự đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là trong mùa hè, nguy cơ ngộ độc thực phẩm cao.

sử dụng nước mía bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm khi mang thai 3 tháng đầu

Đối với các mẹ có khả năng tiểu đường cao thì không nên dùng nước mía trước khi tham khảo ý kiến bác sĩ. Tìm hiểu thêm về 3 tháng cuối thai kỳ có nên uống nước dừa

Khi mua nước mía về và không có nhu cầu sử dụng ngay thì nên đậy kín, cho vào tủ lạnh nhưng không được trữ lạnh quá 3h, tốt nhất nên uống ngay sau khi được ép tối đa 15 phút.

Khi mang thai, nhiều mẹ bầu sẽ ốm nghén gây buồn nôn các mẹ không nên uống nước mía với 1 hơi dài vì sẽ mang theo nhiều bọt khí vào đường tiêu hóa dễ dẫn đến nôn. Nếu thấy buồn nôn, các mẹ có thể cho thêm ít gừng tươi vào nước mía sẽ dễ uống và hạn chế được hiện tượng ốm nghén hoặc tham khảo: Cách trị ốm nghén băng thực phẩm thường ngày

Không nên uống nước mía vào buổi sáng sớm và tối muộn, vì nước mía có thể làm lạnh bụng gây khó chịu cho các mẹ.

nếu cần thiết có thể sử dụng thêm mía khúc khi mang thai 3 tháng đầu để bảo đảm an toàn vệ sinh

Cần thiết, có thể dùng mía khúc thay cho nước mía, nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho các mẹ khi mang thai 3 tháng đầu.

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

Mang Thai 3 Tháng Đầu Cần Chú Ý Những Gì Để Thai Nhi Khỏe Mạnh

Trước và trong khi mang thai, bà mẹ cần thay đổi một số thói quen và sở thích ăn uống không tốt. Ví dụ thói quen ăn mặn vì phụ nữ có thai ăn nhiều muối sữ dẫn đến huyết áp cao và phù, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mẹ và con.

Điều gì đang xảy ra khi mang thai? Thời gian mang thai được xác định là từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng và được quy định là từ tuần 1 đến 12 của thai kỳ. mang thai 3 tháng đầu cần chú ý những gì là thời gian thai nhi tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Đến tuần thứ 6 của thai kỳ thì phôi thai đã có kích thước to bằng hạt đậu rồi và trái tim bé nhỏ sẽ bắt đầu những nhịp đập đầu tiên. 


Đến khi kết thúc giai đoạn đầu tức là hết tháng thứ 3 thì các bộ phận, cơ quan của thai nhi bắt đầu được hình thành. Kích thước thai nhi đã to bằng quả táo và có thể nghe được tim thai qua ống nghe chuyên dụng.

Những thay đổi ở cơ thể của người mẹ Nếu cơ thể bạn cảm thấy mệt mỏi, chỉ muốn nằm ngủ, luôn có cảm giác thấy đói và thèm những món ăn mà bạn chẳng thể ngờ tới những cũng có thể thấy siêu thờ ơ với những món bạn cực thích trước đây, dị ứng với mùi lạ và hay có cảm giác buồn nôn, hay đau đầu, chóng mặt và thường xuyên buồn đi tiểu. Trên đây là những biểu hiện phổ biến nhất và hoàn toàn bình thường đối với mẹ bầu 3 tháng. Đây là do cơ thể phải sản xuất nhiều máu hơn để cung cấp cho thai nhi và có sự tăng hormone, kích thước tử cung của mẹ bầu cũng tăng lên đáng kể.

Dưỡng chất cần thiết cho bà bầu trong  3 tháng đầu thai kỳ

Chế độ ăn uống trong 3 tháng đầu thai kỳ chỉ cần đảm bảo bổ sung thêm khoảng 200-300 calo mỗi ngày để có thể tăng thêm từ 1 đến 2,5 kg trong giai đoạn này. Một số thực phẩm bà bầu nên ăn trong 3 tháng đầu thai kỳ:

– Axit folic: Ngay từ khi có ý định mang thai, bạn nên chú ý bổ sung thêm axit folic cho cơ thể, vì nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não và cột sống của bé. Mỗi ngày mẹ nên chú ý thêm khoảng 400 mg axit trong thực đơn của mình.

– Sắt: Khi mang thai 3 tháng đầu cần chú ý những gì, thiếu máu là tình trạng khó tránh khỏi. Ăn gì trong 3 tháng đầu để con thông minh đã khó mà thực phẩm bà bầu nên ăn trong 3 tháng đầu nhất định không thể thiếu sắt. Vì vậy, bạn nên bổ sung thêm nhiều thực phẩm chứa sắt để tăng cường hồng cầu cho cơ thể. Ngoài ra, bạn phải luôn luôn nhớ rằng những thứ bà bầu nên ăn trong 3 tháng đầu nếu thiếu sắt sẽ khiến bạn vô cùng mệt mỏi.

– Canxi: thực phẩm bà bầu nên ăn trong 3 tháng đầu cũng rất cần canxi. Trong quá trình phát triển xương của bé, mẹ cần cung cấp một lượng canxi lớn. Nếu không bổ sung đủ lượng canxi cần thiết, rất có thể thai nhi sẽ “hút”canxi từ mẹ và có thể làm bạn bị thiếu canxi và loãng xương sau sinh. Vì thế, thực phẩm bà bầu nên ăn trong 3 tháng đầu cần đảm bảo đầy đủ lượng canxi cần thiết.

– Protein: Ăn uống trong 3 tháng đầu mang thai đủ protein sẽ giúp cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ. Mỗi ngày, bạn nên chú ý cung cấp cho cơ thể khoảng 70g protein để đảm bảo bé cưng có thể phát triển một cách an toàn.

Những thực phẩm không nên ăn trong 3 tháng đầu mang thai

Trước và trong khi mang thai, bà mẹ cần thay đổi một số thói quen và sở thích ăn uống không tốt. Ví dụ thói quen ăn mặn vì phụ nữ có thai ăn nhiều muối sữ dẫn đến huyết áp cao và phù, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mẹ và con.

Phụ nữ mang thai không nên ăn hoặc hạn chế sử dụng các loại cá có nguy cơ chứa thủy ngân cao (cá thu, cá mập, cá kiếm). Thủy ngân nhiễm trong cá nếu tích lũy quá nhiều có thể gây tổn thương đến não của thai nhi. Tìm hiểu thêm về bà bầu uống nước dừa

Phụ nữ có thai không nên sử dụng những thực phẩm đã được xác nhận là gây nguy hiểm cho thai nhi. Ví dụ như một số loại củ, quả mọc mầm (như khoai tây) vì chứa nhiều chất độc, gây ảnh hưởng đến thai nhi. Các sản phẩm sữa, bơ, phomat chưa qua tiệt trùng; cá, thịt, trứng còn tái; thức ăn ôi thiu, mốc, có mùi lạ cũng không được sử dụng vì chúng chứa nhiều vi khuẩn và mầm bệnh gây tác động xấu đến sức khỏe của mẹ và con. Nên lựa chọn những thực phẩm an toàn, rau quả cần rửa sạch, gọt vỏ trước khi ăn và chế biến để tránh nhiễm khuẩn. Ăn ít hoặc không ăn những loại thực phẩm có khả năng gây động thai, sinh non như đu đủ xanh, táo mèo, long nhãn, đào, gừng, ớt, rau sam…

Phụ nữ có thai không nên uống rượu và dồ uống có cồn. Cồn trong rượu sẽ vào cơ thể mẹ và qua nhau thai xâm nhập vào bào thai, trực tiếp gây hại cho thai nhi, có thể làm cho bé phát triển chậm hoặc có bộ phận bị dị dạng.

Phụ nữ có thai cũng không nên dùng nhiều đồ uống có ga, có chứa cafein và cocain. Chất cafein có trong cà phê và đồ uống có ga có hại với phôi thai, có khả năng gây sảy thai. Ngoài ra cafeincos thể làm phá vỡ các vitamin dẫn đến triệu chứng thiếu vitamin B1 mà biểu hiện là mệt mỏi, chán ăn, táo bón. Cafein cũng kìm hãm sự hấp thu của sắt và kẽm, làm nặng hơn tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai.

Quan hệ khi mang thai 3 tháng đầu và những điều các cặp vợ chồng cần lưu ý. Trong quá trình mang thai các cặp vợ chồng nên biết cách quan hệ như thế nào cho hợp lý không ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi là bà bầu. Đây không phải là vấn đề đơn giản rất nhiều các cặp vợ chồng thiếu hiểu biết gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Hãy cùng tham khảo những thông tin dưới đây để có thêm kinh nghiệm cũng như kiến thức quan hệ một cách hợp lý nhất khi mang thai nhé!

Từ tháng đầu mang thai đến tháng thứ 3. Trong thời điểm này, sự đòi hỏi sinh lý và nhu cầu thoã mãn tình dục có dao động lên đôi chút, do về tâm lý được an định hơn trong đời sống gia đình. Tuy nhiên đa số phụ nữ mang thai ba tháng đầu đều có biểu hiện nôn nghén, mệt mỏi, kém hứng thú.

Có vấn đề ở cổ tử cung: Trong trường hợp bạn được chuẩn đoán cổ tử cung yếu, thường là do những ca sảy thai hoặc sinh nở trước để lại, cổ tử cung mở ra quá sớm… bạn có thể được khuyên kiêng khem “chuyện ấy” trong suốt thời gian mang bầu.

Vấn đề kiêng hay không là do người thai phụ quyết định phải dựa trên cơ sở hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa và với người chồng, tránh việc giao hợp quá sâu và tránh kích thích âm đạo quá mức, tránh những tư thế đè nén vào tử cung và chú trọng vệ sinh cơ thể cho thai phụ. Hãy giữ lửa yêu thương ngay cả khi mang bầu.

Nếu bạn đang có một thai kỳ khỏe mạnh bình thường thì không có lý do gì bạn lại không tận hưởng đời sống tình dục ngọt ngào với ông xã của mình từ lúc thụ thai đến gần khi em bé chào đời. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, bác sĩ sẽ chỉ định bạn nên kiêng “chuyện ấy” để thai kỳ được khỏe mạnh và an toàn. Vậy đó là những trường hợp nào?

Có tiền sử sảy thai: Nếu bạn đã từ sảy thai một vài lần trước đó, bác sĩ có thể yêu cầu bạn phải kiêng “chuyện ấy” trong 3 tháng đầu mang thai cho đến khi bác sĩ khám và khẳng định thai nhi đã hoàn toàn an toàn.

Có nguy cơ sinh non: Nếu bạn đã từng có một ca sinh non trong quá khứ hoặc bạn gặp phải các cơn co thắt ở tử cung trong thai kỳ, bạn nên kiêng “chuyện ấy” hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ.

Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân: Trong trường hợp có những bất thường ở thai kỳ như chảy máu âm đạo bất thường, chuột rút… thì có thể thai kỳ của bạn có vấn đề và bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân và biết cách kiêng khem “chuyện ấy”.

Mắc bệnh nhau tiền đạo: Nếu chị em đang được chuẩn đoán bị bệnh nhau tiền đạo hoặc gặp bất cứ vấn đề gì ở nhau thai thì sẽ được bác sĩ chỉ định dừng việc quan hệ để làm giảm nguy cơ chảy máu nhau thai. 

Rò rỉ nước ối: Trong trường hợp thai kỳ của bạn bị rò rỉ nước ối, điều này cảnh báo thai nhi không còn được bảo vệ để tránh nhiễm trùng trong túi nước ối nguyên vẹn. Vì vậy quan hệ trong trường hợp này khá nguy hiểm, dễ gây nhiễm trùng cho bé.

Người chồng và cả người vợ cần biết rằng bộ phận sinh dục nữ, khi có thai chứa nhiều máu hơn và có khuynh hướng to lên, mềm ra, dễ giãn rộng hơn và sâu hơn, song khi có kích thích tình dục thì âm đạo vẫn tiết dịch nhầy làm trơn niêm mạc và cổ tử cung thì vẫn đóng kín. Dương vật không có khả năng đụng chạm được tới bào thai. Tinh dịch vẫn chỉ chứa đựng trong các túi cùng sau mà không thể thấm vào trong tử cung được do cổ tử cung đã bị nút nhầy đóng chặt rồi.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý: Nếu bạn thấy xuất hiện những biểu hiện sau trong thời kỳ thai nghén, thì cần dừng ngay việc quan hệ và đi gặp ngay bác sĩ sản khoa và tình dục học: có dấu hiệu sinh sớm, ra huyết nơi âm đạo, bị chuột rút nhiều lần, cổ tử cung yếu (hở eo), biểu hiện triệu chứng của bệnh phụ khoa nào đó (đau, khó chịu vùng phần phụ, ra huyết ít/ nhiều…).